Hiển thị các bài đăng có nhãn Toán học Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Toán học Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 25 tháng 8, 2012

Phong trào chuyên Toán: Trăn trở của người trong cuộc

Dưới sự chủ trì của Giáo sư Ngô Bảo Châu, viện Nghiên cứu cao cấp về Toán đã tổ chức buổi toạ đàm giữa các nhà toán học, các nhà giáo dục, giáo viên chuyên toán và đại diện một số diễn đàn toán học để bàn về vấn đề bồi dưỡng giáo viên chuyên toán và học sinh giỏi toán.
phong trao chuyen toan
Giáo sư Ngô Bảo Châu tại Hội nghị Toán học Việt-Pháp (Huế, 8/2012)

Trăn trở của người trong cuộc


Thực trạng đã diễn ra nhiều năm là không nhiều học sinh chuyên toán nói chung và các học sinh đoạt giải học sinh giỏi toán nói riêng tiếp tục theo học toán ở bậc đại học. Hệ quả là các khoa toán ở các trường đại học thiếu sinh viên giỏi, xuất sắc để có thể tiếp tục đào tạo ở cấp học cao hơn, tạo thành lực lượng kế cận sau này. GS Phùng Hồ Hải (viện Toán học Việt Nam) chia sẻ: “Nhiều năm nay tôi tham gia giảng dạy cho các lớp tài năng tại đại học Sư phạm, trung bình trong số 20 em của lớp này chỉ có chừng hai, ba em từng là học sinh giỏi quốc gia”. GS Nguyễn Hữu Dư, tổng thư ký hội Toán học Việt Nam bổ sung: “Khối chuyên toán đại học Khoa học tự nhiên Hà Nội từ lâu luôn tự hào đã đào tạo nhiều thế hệ học sinh sau này trở thành những nhà toán học xuất sắc, nhưng vài năm gần đây mạch nước quý đó dường như đã ngừng lại”.

Dưới góc nhìn của các giáo viên chuyên toán thì phong trào dạy và học chuyên nói chung và chuyên toán nói riêng đang chững lại. Học sinh luôn đứng trước sự lựa chọn giữa con đường học chuyên sâu để thi học sinh giỏi quốc gia và con đường học ngoại ngữ để đi du học, thêm vào đó là tác động của những thay đổi chính sách khiến học sinh giỏi không còn quá mặn mà với việc học chuyên. Bên cạnh đó, việc thiếu các chế độ đãi ngộ xứng đáng cũng dẫn đến tình trạng các trường rất khó thu hút giảng viên giỏi về dạy chuyên. TS Đậu Hoàng Hưng, tổ trưởng tổ toán trường THPT chuyên Phan Bội Châu – Nghệ An cho rằng việc bỏ các lớp chuyên cấp 2 và kỳ thi học sinh giỏi toán lớp 9 đã khiến các trường chuyên phải vất vả bổ sung các kiến thức rất cơ bản về số học, hình học phẳng cho học sinh. Tiếp theo ý kiến này, GS Lê Tuấn Hoa, chủ tịch hội Toán học Việt Nam cho rằng với cách học vượt, học lướt, học sinh chỉ học được phần ngọn, tức là kỹ năng giải các bài toán theo khuôn mẫu nhất định.

Những cố gắng ban đầu


Mặc dù có những khó khăn nhất định, dù có những lúc bị tác động dữ dội, nhưng phong trào học sinh giỏi toán vẫn tiến về phía trước. Những năm gần đây, với sự tích cực của một số tổ chức, cá nhân, một số hoạt động có tác dụng thúc đẩy phong trào dạy và học chuyên toán đã được tổ chức. Đó là chương trình Trại hè toán học Hùng Vương do hội Toán học Hà Nội và một số trường chuyên vùng Tây – Việt Bắc và trung du Bắc bộ tổ chức, là Olympic duyên hải Bắc bộ, Olympic Hà Nội mở rộng. Ở phía nam, bên cạnh kỳ thi Olympic 30.4 truyền thống có kỳ thi Olympic đồng bằng sông Cửu Long, hội thảo liên kết các tỉnh duyên hải và Tây Nguyên.

Ở viện Toán học Việt Nam, dưới sự tài trợ của quỹ Phát triển toán học Việt Nam, một nhóm cán bộ trẻ của viện (hầu hết đã từng tham dự Olympic toán quốc tế) đã tổ chức CLB Toán học với mục đích cung cấp các kiến thức chuyên toán, luyện tập giải toán và lôi kéo học sinh ham thích toán học. Qua hoạt động của câu lạc bộ, các học sinh chuyên toán đã được học trực tiếp với các nhà toán học và các giáo viên chuyên toán như GS Hà Huy Khoái, GS Ngô Bảo Châu, GS Vũ Hà Văn, GS Phùng Hồ Hải, TS Nguyễn Minh Hà, TS Nguyễn Duy Thái Sơn, TS Phan Thị Hà Dương, TS Nguyễn Chu Gia Vượng, TS Vũ Thế Khôi, TS Lê Anh Vinh… Bên cạnh những kiến thức và kỹ năng cần thiết cho mục tiêu trước mắt của học sinh là các kỳ thi học sinh giỏi, học sinh còn được tiếp cận với những khởi đầu của toán cao cấp, làm quen với các vấn đề của toán học hiện đại.

Ở TP.HCM, một câu lạc bộ toán học được tổ chức với các seminar phương pháp toán sơ cấp. Đặc biệt, chương trình Gặp gỡ toán học qua bốn lần tổ chức (từ tháng 1.2010) với nhiều hoạt động phong phú đã thu hút hàng trăm lượt học sinh từ các tỉnh thành tham dự. Đây cũng là dịp để các học sinh yêu toán khu vực phía nam được học và giao lưu với các giáo sư toán học hàng đầu của Việt Nam, với những giáo viên chuyên toán nổi tiếng.

Bên cạnh các hoạt động trực tiếp nói trên, không thể không kể đến những đóng góp của các diễn đàn toán học, trong đó nổi bật nhất là diendantoanhoc.net và mathscope.org. Các diễn đàn là kênh giao lưu chia sẻ tài liệu và kinh nghiệm học tập rất hiệu quả, xoá nhoà khoảng cách về mặt tài liệu giữa các thành phố và vùng sâu vùng xa. Chính nhờ một phần vào những diễn đàn này mới có sự thành công của các học sinh học trường huyện như Võ Văn Huy – huy chương đồng toán quốc tế 2011, Nguyễn Đình Toàn – giải nhất học sinh giỏi toán quốc gia 2012.

Chờ một cú hích


Ghi nhận ý kiến của các đại biểu dự hội thảo và phần báo cáo sơ lược về hoạt động của các câu lạc bộ và diễn đàn Toán học, GS Ngô Bảo Châu gợi ý đại biểu tập trung đề xuất các hoạt động cụ thể nhằm thúc đẩy các hoạt động bồi dưỡng giáo viên chuyên toán, bồi dưỡng học sinh giỏi toán và chung hơn nữa là truyền bá toán học. Các cơ chế và động cơ vận hành của các hoạt động hiện hữu nên tiếp tục được phát huy, vấn đề là làm sao tổ chức quy củ hơn, chuyên nghiệp hơn và hiệu quả hơn. Bên cạnh đó, với sự vào cuộc của viện Nghiên cứu cao cấp về toán và chương trình trọng điểm Phát triển toán học Việt Nam giai đoạn 2010 – 2020, có thể nghĩ đến các hoạt động có ảnh hưởng sâu rộng hơn, cần sự đầu tư lớn hơn về nhân lực, tài lực.

GS Hà Huy Khoái, nguyên viện trưởng viện Toán học Việt Nam, người nhiều năm tham gia bồi dưỡng và dẫn đội tuyển Việt Nam dự thi toán quốc tế đề xuất học tập kinh nghiệm của Nga trong việc tổ chức viết các cuốn sách nhỏ để truyền bá toán học và các chuyên đề chuyên toán. Bên cạnh đó, học tập kinh nghiệm một số nước, có thể khai thác sức mạnh của internet qua các lớp học trực tuyến.

Tiếp nối ý kiến của GS Hà Huy Khoái, TS Nguyễn Chu Gia Vượng đề xuất: “Chúng ta có thể bắt đầu chương trình xuất bản sách truyền bá toán học bằng cách dịch các cuốn sách hay của Nga, Mỹ…” Ý kiến này được đa số đại biểu ủng hộ.

Tổng hợp ý kiến của các đại biểu tham dự, GS Ngô Bảo Châu đưa ra chương trình hành động bốn điểm của nhóm hạt nhân, đó là: tổ chức hoạt động bồi dưỡng học sinh giỏi; tổ chức hoạt động bồi dưỡng giáo viên; tổ chức viết các tài liệu chuyên đề và truyền bá toán học; nâng cao hiệu quả và tính định hướng của các diễn đàn toán học. GS Ngô Bảo Châu cũng đề nghị GS Hà Huy Khoái nhận lãnh trách nhiệm người đứng đầu cho mảng chuyên toán, lịch sử toán học và truyền bá toán học.

Như vậy, phong trào chuyên toán sau những giai đoạn khủng hoảng và thiếu định hướng đã có những tín hiệu ổn định, và đang chờ một cú hích như cú hích năm 2010 mà GS Ngô Bảo Châu đem đến cho toán học Việt Nam.

Theo TS. TRẦN NAM DŨNG (SGTT)

Thứ Sáu, 10 tháng 8, 2012

Giáo sư Ngô Bảo Châu và hoạt động của viện nghiên cứu cao cấp về Toán

MATHVN xin giới thiệu bài phỏng vấn Giáo sư Ngô Bảo Châu về hoạt động của viện nghiên cứu cao cấp về Toán cũng như lớp hè 2012 của giáo sư. Bài đăng trên VNExpress.
giao su ngo bao chau, hoat dong vien nghien cuu cao cap ve toan
Giáo sư Ngô Bảo Châu về nước tổ chức lớp hè 2012
- Lớp học hè của giáo sư được học viên đánh giá rất cao, giáo sư có phương pháp gì giúp học viên dễ dàng tiếp cận với kiến thức khó?

- Ở mỗi lớp, mỗi đề tài có một phương pháp tiếp cận khác nhau. Tôi lấy ví dụ như lớp sinh hoạt Khoa học máy của GS Hồ Tú Bảo, Xuân Long, John Lafferty có học viên là cán bộ, giảng viên nhiều trường đại học kỹ thuật, bách khoa, quốc gia... có quan tâm đến lĩnh vực học máy. Cách tiếp cận rất hiện đại như dùng thống kê và đủ mọi thứ trong tin học, từ việc truyền thống như nhận dạng tiếng nói, chữ viết cho đến ngành mới trong sinh học như y sinh, nghiên cứu phân tử tế bào bằng phương pháp thống kê.

Lớp của tôi là toán lý thuyết. Tôi có tổ chức một lớp gồm mấy chục sinh viên năm cuối đại học ở ĐH Quốc gia, Vinh, TP HCM và khoảng 5-6 em ở bên Mỹ về tham gia với lớp. Dù học viên ở trình độ khác nhau nhưng sinh hoạt rất sôi nổi. Tôi tin vào học chủ động, không phải chỉ đơn giản là thầy giáo giảng bài, học sinh chép. Tôi tổ chức lớp có hai phần, để cho kể cả những em trình độ thấp và cao đều không bị mất phương hướng.

Đó là xen kẽ một buổi học theo cuốn sách cổ điển, chia thành các chương để các em mỗi em được giao đọc, trình bày và viết lại chương đó. Một buổi khác thì tổ chức seminar về vấn đề thời sự trong lý thuyết số.

Đối với các em nghiên cứu sinh, tôi cũng giao cho đọc mỗi người một mảng khác nhau và trình bày lại. Lớp học này đang triển khai và tuần sau có thể xong. Ở Viện Toán, buổi sáng có seminar, chiều các em tự học, tự trao đổi. Sinh viên đại học có chỗ nào chưa hiểu thì có thể hỏi thêm nghiên cứu sinh, những người có hiểu biết sâu rộng. Mặc dù kiến thức rất khó nhưng các học viên vẫn bám được vào rất tốt.

- Toán học cơ bản tương đối trừu tượng và khó thu hút, Viện Toán đã có kế hoạch phát triển toán học ứng dụng như thế nào?

- Toán học ứng dụng đòi hỏi kinh phí nhiều hơn toán cơ bản. Viện sẽ phải đầu tư nhiều về tài chính và công sức để tìm người thực sự có chuyên môn và ảnh hưởng quốc tế lớn dẫn dắt Toán học ứng dụng. Như năm nay, lần đầu tiên Viện tổ chức khóa học máy may mắn đã có GS Hồ Tú Bảo, Xuân Long, Ngô Quang Hưng là ba nhà khoa học người Việt làm việc ở nước ngoài rất có uy tín trong lĩnh vực này về nước giảng dạy.

GS Bảo có thuận lợi là mỗi năm về nước 10-12 lần nên sự gắn kết với anh em đang làm việc tại Việt Nam rất lớn. Buổi đầu tiên giáo sư giảng có 120 người đến dự, những buổi sau chuyên sâu cũng có tới 60-70 người đến dự. Ngoài ra, ông còn mời được GS John Lafferty ở ĐH Chicago - một trong những chuyên gia hàng đầu về lĩnh vực học máy về dạy.

Chương trình này chắc chắn sẽ tiếp tục được giảng dạy ở những năm tới. Tuy nhiên sẽ có sự điều chỉnh như học máy trong lĩnh vực nào đó tập trung hơn như nhận dạng chữ viết, xử lý văn bản, từ điển, làm về y sinh... Và mỗi một lĩnh vực thì ban giám đốc phải tìm được người đầu đàn dẫn dắt, phải có giáo sư người Việt ở nước ngoài, giáo sư ở Việt Nam và giáo sư người nước ngoài giúp đỡ giảng dạy... thì mới có thể thành công.

Trong thời gian tới, Viện cũng chuẩn bị triển khai một số lĩnh vực như toán trong cơ học chất lỏng, toán trong truyền thông, Vật lý vũ trụ học...

- Những hoạt động của Viện Toán đã diễn ra như thế nào so với kế hoạch và kỳ vọng đặt ra, thưa giáo sư?

- Mọi việc diễn ra suôn sẻ hơn so với những gì tôi dự định. Cả về hành chính, quản trị, khoa học... đều thực hiện rất tốt, mọi người tham gia công tác ở Viện đều nhiệt tình và thiện tâm.

Chương trình Khoa học máy do GS Bảo, anh Long đề xuất, Viện hỗ trợ. Mọi công việc giảng dạy cũng do các anh tổ chức, điều hành. Cũng chính các anh đã mời được GS John Lafferty - một trong số những người giỏi nhất về khoa học máy trên thế giới về giảng dạy. Dù John dạy cùng trường với tôi, cũng quen biết sơ sơ nhưng tôi không biết ông ấy xuất sắc về mảng đó cho đến khi anh Bảo, Long nói với tôi.

Sau này các hoạt động khác cũng sẽ như thế. Viện sẽ định hướng về đề tài, còn việc tổ chức là do một số người có chuyên môn, tự đề xướng, tự thực hiện bởi bản thân lãnh đạo Viện không thể tham dự vào việc tổ chức một cách cụ thể như vậy.
tru so vien nghien cuu cao cap ve toan 2012
Viện NCCC về Toán (VIASM) đang đặt trụ sở tại Tầng 7, Thư viện Tạ Quang Bửu, số 1 Đại Cồ Việt, Hà Nội. Hiện viện đang chuẩn bị xây trụ sở mới tại Mễ Trì
- Các nhà nghiên cứu cho rằng để khuyến khích nhiều người học toán và phát triển toán học trước hết cần mở rộng khoa Toán ở các trường đại học, quan điểm của giáo sư như thế nào?

- Mọi người nói nhiều đến phương pháp nhưng tôi thấy quan trọng nhất là trình độ, bởi trình độ khoa học thực chất là cần thiết. Chúng ta đang thiếu người có trình độ tiến sĩ để giảng dạy toán ở các trường đại học. Có phương pháp, có nhảy múa quay cuồng nhưng nếu không hiểu toán anh cũng không dạy được. Chính vì vậy việc đào tạo nhiều người có trình độ tiến sĩ cho các đại học là rất cần thiết.

Những người giảng ở trường đại học nhỏ không cần thiết phải có công trình nghiên cứu sắc bén nhưng họ phải hiểu kiến thức cơ bản của toán học một cách chắc chắn. Việc tôi và anh Lê Tuấn Hoa phối hợp với bên Pháp gửi giảng viên sang Pháp học tiến sĩ theo chương trình 322 đến nay có hơn 100 em đã được gửi sang học. Chương trình 322 hỗ trợ 1 năm master, sau đó các trường ĐH Pháp cho học bổng để làm tiến sĩ.

Trong vòng 5 năm, hơn một nửa số đó sẽ có bằng tiến sĩ về phục vụ đất nước. Đáng tiếc là chương trình 322 vừa phải dừng lại. Không phải tất cả các giảng viên đi học đều giỏi, xuất sắc nhưng ít nhất là họ được đào tạo, có kiến thức cơ bản, sẽ là đầu tàu, chủ lực trong việc dạy toán ở Việt Nam.

- Vừa công tác ở Đại học Chicago vừa về Việt Nam lãnh đạo Viện Toán cao cấp, khó khăn nhất đối với giáo sư là gì?

- Khó khăn nhất là về vấn đề cuộc sống gia đình. Giáo sư đại học có hai tháng nghỉ hè để đi chơi với con cái, giờ tôi mất hai tháng nghỉ hè đó. Trong năm học thì cũng phải về một hai lần lo những việc cụ thể của Viện.

Trong năm đầu tiên Viện mới ra đời thì có nhiều việc phải làm. Anh Lê Tuấn Hoa đã lo những công việc hàng ngày của Viện, điều hành hệ thống tổ chức hành chính hoạt động đã rất trơn tru và quy củ.

Công việc chính của tôi là làm việc với hội đồng khoa học của Viện, để chọn lọc những hồ sơ những chương trình chuyên biệt đăng ký đến làm việc ở Viện 2-3 tháng, tìm cách xây dựng những chương trình mới cho những năm tiếp theo. Công việc chính có thể trao đổi qua email, tuy nhiên một năm lãnh đạo Viện cũng phải họp 2-3 lần.

- Viện có những định hướng phát triển gì cho những em tham gia lớp học hè ở Viện, thưa giáo sư?

- Năm nay, các lớp học hoạt động tốt hơn tôi mong đợi. Trước khi về nước tôi nhờ các anh trong hội đồng khoa học giới thiệu cho tôi những sinh viên giỏi, có quan tâm đến chuyên môn của tôi. Các anh viết giấy giới thiệu, gửi cho tôi bảng điểm của các em và cuối tháng 5 tôi lên danh sách lớp. Sau đó, bộ phận hành chính gửi giấy mời cho các em, lo những việc về hậu cần.

Tôi thật sự mừng khi những phần tôi giao các em viết lại đều rất mạch lạc, cẩn thận. Đặc biệt hơn, khi tôi hỏi các em "Lớp học có ích cho các em không?", tất cả đều trả lời là "Rất có ích" và nói rằng các em rất quý thời gian ở đây, được trao đổi thêm với các bạn nghiên cứu sinh ở Mỹ về, chia sẻ kinh nghiệm học tập, nghiên cứu.

Đối với những em đang học đại học, khi tôi biết các em rõ về các em hơn thì tôi có thể giới thiệu các em đi học nước ngoài. Việc du học hiện nay không phải là quá khó nữa.

MathVn.Com (Theo Hoàng Thùy, VNExpress)

Thứ Năm, 22 tháng 12, 2011

Toán ứng dụng Việt Nam: Kém phát triển

Ở nước ta hiện nay, vẫn chưa có công trình nghiên cứu toán học nào ứng dụng đáng kể vào kinh tế là một thực trạng rất đau xót - GS.TSKH Lê Tuấn Hoa, chủ tịch hội Toán học Việt Nam, chia sẻ bên lề hội nghị quốc tế về toán học và ứng dụng (ICMA 2011) diễn ra tại đại học Kinh tế – Luật (ĐH Quốc gia TP.HCM) từ ngày 20/12 - 22/12 năm 2011.
Toán ứng dụng Việt Nam: Kém phát triển
GS Lê Tuấn Hoa và GS Efim Zelmanov
Phát biểu tại buổi khai mạc ICMA 2011 sáng 20.12, GS Efim Zelmanov – người nhận giải Field năm 1994 cho biết, toán học là một bộ phận không thể thiếu đối với tiến bộ công nghệ hiện đại. Toán hiện diện khắp nơi từ y, sinh học, tự động hoá, lĩnh vực công nghệ truyền thông… cho đến các mô hình tài chính. Ranh giới giữa toán thuần tuý và công nghệ ngày càng mờ nhạt, nên sự phát triển của một quốc gia như Việt Nam rất cần những người làm toán.

Trong khi đó, những câu hỏi về nhu cầu và tương lai toán học ở Việt Nam, sự phát triển kinh tế xã hội và khoa học công nghệ đòi hỏi bao nhiêu người có chuyên môn về toán, chuyên môn đến mức nào và trong những chuyên ngành gì... vẫn chưa ai trả lời được. Trong một tham luận viết cho hội thảo về đào tạo toán học tại Việt Nam, GS Nguyễn Tiến Dũng đang giảng dạy tại đại học Toulouse – Pháp, cho biết mọi tổ chức và doanh nghiệp lớn đều cần những người có trình độ về toán ở mức sau đại học để tham gia nghiên cứu các vấn đề kỹ thuật, tài chính và chiến lược cho tổ chức, doanh nghiệp đó. Đấy là hướng đi của thế giới trong thế kỷ 21, và cũng là hướng đi của Việt Nam trong những thập kỷ tới nếu Việt Nam muốn đuổi kịp thế giới. Rất tiếc, hiện số người có trình độ toán cao cấp ở Việt Nam còn quá ít, và đóng góp của họ cũng chưa được nhiều, các tổ chức và doanh nghiệp lớn của Việt Nam hầu như vắng bóng họ.

Do vậy, ICMA 2011 được chờ đợi tạo ra một diễn đàn hợp tác cho các nhà toán học và các nhà khoa học trên thế giới đang làm việc trong các lĩnh vực có liên quan đến toán học, trong đó có kinh tế – tài chính. Với sự tham dự của hơn 120 nhà toán học, trong đó trên 80 đại biểu từ nước ngoài và gần 70 báo cáo khoa học về toán và các vấn đề ứng dụng, TS Nguyễn Văn Luân, hiệu trưởng trường đại học Kinh tế – luật hy vọng “hội nghị sẽ thúc đẩy trao đổi giữa các nhà toán học và ứng dụng toán học ở trong và ngoài Việt Nam, đặc biệt trong kinh tế – tài chính và một số lĩnh vực khác trong tương lai”. Tuy nhiên, theo GS Lê Tuấn Hoa, từ những nghiên cứu được báo cáo (ví dụ ở hội nghị này) đến những ứng dụng thực tế nhiều khi có khoảng cách dài. Chờ đón một kết quả hội nghị ra thực tế ngay thì trong toán không thể có được. Nhiều khi bản thân những người nghiên cứu ra lý thuyết đó cũng không biết. Nền toán học Việt Nam những năm vừa qua có những thành tựu rất đáng tự hào, nhưng về tổng thể so với thế giới thì vẫn còn rất yếu. Ông cho biết, cả nước hiện chỉ có khoảng 1.000 tiến sĩ toán. Trong đó, số người thực sự đang làm toán chỉ trên dưới 200. Đó là thực tế khá u ám.

GS Hoa dẫn chứng, riêng tập đoàn Microsoft của Mỹ đã có hơn 1.000 nhà toán học được tuyển dụng từ khắp thế giới; mỗi hội nghị chuyên đề toán ở Hàn Quốc cũng tập hợp hàng trăm nhà toán học. Toán học Hàn Quốc có xuất phát điểm thấp hơn Việt Nam, trong vòng 30 năm qua đã phát triển vượt bậc, và toán học đã đóng góp rất đáng kể cho sự phát triển kinh tế của họ.
Nếu Việt Nam không có sự cải thiện ngành toán, nhất là cách thức dạy và học toán trong nhà trường, chúng ta không những tiếp tục thua kém về khoa học mà khoảng cách kinh tế với các nước sẽ càng xa.
Giáo sư Lê Tuấn Hoa

Bên lề hội nghị ICMA 2011, GS Ngô Việt Trung cho biết, một trong những hạn chế lớn nhất khiến ứng dụng khoa học của Việt Nam khó phát huy là thiếu động lực phát triển. Phần lớn các công ty tư nhân Việt Nam có quy mô quá nhỏ, còn các tập đoàn lớn thường không quan tâm đến hiệu quả. Họ sẵn sàng mua các ứng dụng của nước ngoài chứ không muốn đặt hàng nghiên cứu trong nước. Nghịch lý đó tồn tại trong khắp các lĩnh vực khoa học chứ không riêng toán học. Bên cạnh đó, đội ngũ làm toán cũng yếu. Thật ra, theo GS Trung, người làm toán ứng dụng để giải quyết những vấn đề cụ thể, cần có một tập thể nhiều nhà khoa học chứ không thể chỉ một cá nhân mà làm được. Muốn như thế phải có đầu tư mạnh. Trong điều kiện hiện tại, nếu không có hỗ trợ của Nhà nước thì bản thân các nhà khoa học không tài nào thực hiện được.

MATHVN.COM (Theo Sài Gòn Tiếp Thị Online)

Thứ Tư, 30 tháng 11, 2011

Vũ Hà Văn - người khai sinh số học tổ hợp

MATHVN Xin giới thiệu bài viết mới nhất về một trong hai giáo sư Toán học trẻ nhất Việt Nam - GS Vũ Hà Văn.
Vu ha van, Vũ Hà Văn, Giáo sư, Nhà toán học
Giáo sư Vũ Hà Văn

Giáo sư Vũ Hà Văn là người đầu tiên trên thế giới tìm ra toán "số học tổ hợp" - tạo ra một con đường mới cho nền toán học thế giới. Anh cũng là người đưa ra lời giải cho một loạt các bài toán lớn mà nhiều thập niên lại đây, không ai giải được. Nhưng có lẽ ít ai ngờ, vị giáo sư toán học hàng đầu thế giới lại có một tuổi thơ đầy nhọc nhằn trong những tháng năm đạn bom khói lửa ở quê hương Việt Nam.

Giải bài toán "bí" nhiều thập niên


Một loạt các lý thuyết toán học của các nhà toán học lẫy lừng như Segre về đại số năm 1950; Shamir về đồ thị ngẫu nhiên năm 1980 và bài toán của hai nhà Nobel vật lý Wigner - Dyson năm 1950, 1960, trong hàng chục năm qua chưa có ai giải đáp nổi để đưa vào ứng dụng. Bài toán “bí” này chỉ chấm dứt khi vị GS toán học người Việt, Vũ Hà Văn - hiện đang giảng dạy ở Trường ĐH Tổng hợp Rutgers, Hoa Kỳ - tìm ra một loạt các định lý về xác suất tổ hợp, ma trận ngẫu nhiên, mật độ giá trị riêng của ma trận ngẫu nhiên.

Sau khi đưa ra các định lý để lý giải, vận dụng các lý thuyết toán của các nhà toán học trên, thì những bài toán vốn đang nằm "ngủ" hàng chục năm qua mới được đưa vào ứng dụng trong thực tế. Anh cũng chính là người "khai mở" nên số học tổ hợp (nằm trong toán tổ hợp), một loại hình toán mới trên thế giới.

Với loại hình toán học mới này, Vũ Hà Văn đã xuất bản một cuốn sách mang tên Additive combinatorics dày 570 trang do nhà xuất bản Đại học Cambridge ấn hành. Cuốn sách này anh viết chung với Terence Tao, một trong những nhà toán học hàng đầu của thế giới.

Nhờ những sáng tạo mở ra ngành toán học mới và tìm ra lời giải cho những bài toán "bí" suốt nhiều thập niên, Vũ Hà Văn được trao tặng giải thưởng George Polya. Tên tuổi và những đóng góp của anh được đặt bên cạnh những tên tuổi toán học lớn của thế giới. Thần đồng toán học thế giới L.Lovasz, hiện là chủ tịch Hội toán học thế giới cũng được trao giải thưởng này vào năm 1979.

GS Vũ Hà Văn cho biết: "Một số công trình phát triển và ứng dụng lý thuyết xác suất mà nhờ đó tôi được trao giải Polya là công trình mà qua đó để giải quyết một số bài toán tổ hợp. Phần lớn các công trình này được bắt nguồn từ luận án Tiến sĩ tôi viết tại Đại học Yale (1994-1998). Trong vòng 10 năm qua, các ý tưởng đã được đào sâu, tìm được nhiều ứng dụng và tôi cũng đã phát triển chúng thêm rất nhiều".

Cuộc hội ngộ với thần đồng toán học L.Lovasz


Có lẽ, người có công đưa Vũ Hà Văn đến với thành công ấy, chính là thần đồng toán học L.Lovasz. Đến bây giờ anh vẫn nhớ như in cái ngày định mệnh năm 1987, sau khi tốt nghiệp Trường chuyên Hà Nội - Amsterdam, Vũ Hà Văn lên đường sang Hungary học ngành điện tử tại ĐH Bách khoa Budapest. Trong cuộc thi toán Schweitrer Miklos dành cho sinh viên Hungary, bài luận của Vũ Hà Văn đã được Viện sĩ Hàn lâm, thần đồng toán học thế giới L.Lovasz nghe. Ngay sau đó, thần đồng toán học đã đích thân gửi thư tới Đại sứ quán Việt Nam tại Budapest và bày tỏ về khả năng toán học đặc biệt của Văn. Thần đồng toán học thế giới đã đề nghị Đại sứ quán cho sinh viên Vũ Hà Văn được tiếp tục quá trình học tập tại khoa Toán của Trường ĐH Tổng hợp Eotvos Lorand.

"Tôi rất mong muốn nhận được sự giúp đỡ để chúng ta có thể đào tạo tài năng này một cách tốt nhất", giáo sư L.Lovasz nhấn mạnh trong lá thư gửi Đại sứ quán. Lá thư này đã tạo nên bước ngoặt lớn trong cuộc đời chàng sinh viên Vũ Hà Văn. Anh chuyển từ ngành Điện sang học ngành Toán.

Dưới sự giảng dạy trực tiếp của thần đồng toán học thế giới - GS L.Lovasz, chàng sinh viên Việt Nam Vũ Hà Văn đã sớm bộc lộ những sáng tạo xuất sắc trong ngành Toán và đạt được những thành tích đáng nể trong cuộc đời sinh viên.

Liên tục trong các năm 1991, 1992, 1993 anh đã đoạt giải thưởng trong các cuộc thi Schwritzer - là cuộc thi toán khó nhất cho sinh viên nhằm tìm những nhà nghiên cứu cho tương lai. Là sinh viên năm thứ 3, anh được cử đi dự hội nghị toán học trẻ quốc tế tổ chức tại Đại học Conell ở Hoa Kỳ. Tại hội nghị lớn này, anh đã được đọc bài luận và đăng bài trên tạp chí toán học thế giới. Sang năm học thứ tư, anh được cấp thêm một học bổng của các nước trong khối Cộng đồng châu Âu, sang Bỉ theo học chuyên đề một năm tại Trường đại học Gent.

Năm 1994, tốt nghiệp đại học với tấm bằng đỏ, Vũ Hà Văn lại được nhận giải thưởng Renyi Kato của Hội toán học Hungary và được nhận làm luận án tiến sĩ. Với bảng thành tích dày đặc sau 5 năm được thần đồng toán học thế giới giảng dạy, khi tốt nghiệp đại học tại Hungary, có tới 3 trường đại học danh tiếng của Hoa Kỳ đã đồng ý triệu tập Vũ Hà Văn sang học tiến sĩ.

Cuối cùng, mùa hè năm 1994, Vũ Hà Văn đã quyết định sang Hoa Kỳ học tiến sĩ ngành toán tại ĐH Yale, là ngôi trường cổ có ngành toán tốt nhất Hoa Kỳ, dưới sự hướng dẫn của GS Lovasz. Hiện anh đang giảng dạy tại ĐH Tổng hợp Rutgers, New Jersey - ngôi trường có bộ môn toán tổ hợp mà anh theo đuổi. Vũ Hà Văn còn được mời làm Chủ nhiệm chương trình "Số học tổ hợp" của IAS.
vu ha van va gia dinh
GS Vũ Hà Văn và gia đình nhỏ

Cuộc sống gia đình bình dị


Nhìn cuộc sống đầy đủ, tên tuổi vang dội của GS Vũ Hà Văn bây giờ thì ít ai ngờ, anh cũng từng trải qua tuổi thơ đầy nhọc nhằn trong những năm tháng quê hương Việt Nam còn khó khăn. Đó là những năm tháng mà cha Vũ Hà Văn, nhà thơ Vũ Quần Phương gọi là: "Sống cho qua kỳ đói, khỏi kỳ loạn và chỉ nghĩ làm sao để gia đình được cơm no áo ấm, chứ không dám mơ tới cơm ngon áo đẹp".

Vũ Hà Văn sinh năm 1970, đúng những năm tháng chiến tranh, khói lửa, nên cuộc sống vô cùng vất vả. Cho đến khi thi đỗ điểm rất cao vào khoa Điện tử - Tin học của ĐH Bách khoa Hà Nội, được tiêu chuẩn theo học ở nước ngoài và sang Hungary học, anh vẫn sống trong sự túng thiếu.

Một lần, anh đã phải thốt lên với cha: "Trong đời làm sinh viên của con, con chưa bao giờ được mua đồ mới để dùng cả". Tất cả các đồ dùng cần thiết cho cuộc sống như quần áo, sách vở, radio... Văn đều phải mua lại của những sinh viên tốt nghiệp về nước với giá chỉ bằng 20 - 30% so với đồ mới. Nhưng tất cả những nhọc nhằn của tuổi thơ, của chàng sinh viên xa nhà nơi đất khách cũng không quật ngã được ý chí mạnh mẽ trong Vũ Hà Văn. "Những năm Văn học ở Hungary thiếu thốn lắm, học bổng chỉ đủ ăn thế mà sau 3 năm học đầu, Văn vẫn tiết kiệm được 100 USD mang về cho bố mẹ. Khi cầm đồng tiền ấy, tôi thực sự rất xúc động và thương con", nhà thơ Vũ Quần Phương kể.

Những thành công lớn trên thế giới của Vũ Hà Văn sau này dường như không chỉ là những trái ngọt nơi đầu cành ở chốn đất khách quê người, mà nó đã được ươm mầm từ những năm tháng thơ ấu. Lớn lên trong khốn khó, nhọc nhằn về kinh tế nhưng Vũ Hà Văn lại được hưởng một môi trường giáo dục gia đình tình cảm và luôn đặt sự học lên hàng đầu.

Cha anh, nhà thơ Vũ Quần Phương dù công việc có bận đến bù đầu, vẫn luôn đưa con đi học hàng ngày. Khi đến giờ đón con tan học, dù đang ngồi uống bia vui vẻ bù khú với bạn bè, nhà thơ Vũ Quần Phương cũng gác cốc đứng dậy đi đón con. "Đừng bao giờ để đứa trẻ đứng đợi ở cổng trường bơ vơ, dù là 5 phút. Khi mà tất cả lớp về hết rồi mà còn mỗi con mình đứng đó thì nó buồn đến chừng nào và lo sợ đến chừng nào. Tôi mồ côi bố từ năm lên 6 nên càng thấm thía sự cô đơn và không bao giờ muốn con có cảm giác mà tôi từng trải qua", nhà thơ Vũ Quần Phương tâm sự. Ông cũng hết sức cầu kỳ khi chọn thầy, chọn trường cho con bởi theo ông, sự thành công của đứa trẻ có sự đóng góp chủ yếu của các thầy. Tâm niệm vậy, nên ngay từ bé, ông đã miệt mài tìm bằng được cho con vị thầy giáo giỏi bậc nhất Hà Nội lúc bấy giờ là thầy Tôn Thất. Dù ngày nắng cũng như ngày mưa gió, bão bùng, ông vẫn đạp xe chở con hàng cây số đến nhà thầy học.

Vị giáo sư toán học hàng đầu thế giới suốt ngày bù đầu với việc giảng dạy, nghiên cứu, viết sách nhưng vẫn không quên ngày nào cũng gửi email từ Hoa Kỳ về Việt Nam cho cha mẹ. Bức thư dù ngắn ngủi vài dòng hay dài dằng dặc đến vài trang, luôn là những thông điệp, những dòng tin nhắn, những bức ảnh kể về công việc, cuộc sống trong ngày của Văn và vợ con. Và anh cũng tận tụy với con, với gia đình như chính cha anh đối với anh thuở còn thơ ấu. Sáng sáng, anh đưa hai con tới trường, rồi lái xe tới nơi làm việc hoặc làm việc tại nhà để đến 4 giờ chiều lại vội vã đi đón con, nấu bữa tối cho cả gia đình. "Do công việc giảng dạy và nghiên cứu của tôi chủ động được thời gian hơn nên những khi không phải đi giảng dạy ở các nước, tôi thường đảm nhiệm việc đưa đón con tới trường giúp vợ. Vợ tôi phải làm công việc theo giờ hành chính không thể về sớm được nên tôi cũng giúp vợ công việc nội trợ như nấu cơm, đi chợ", vị giáo sư toán học hàng đầu thế giới mỉm cười "thanh minh".

Nhờ những sáng tạo mở ra ngành toán học mới và tìm ra lời giải cho những bài toán "bí" suốt nhiều thập niên, Vũ Hà Văn được trao tặng giải thưởng George Polya 2008, lần trao giải George Polya gần đây nhất. Đây là giải thưởng cao nhất dành cho những người nghiên cứu toán tổ hợp của Hội Toán học ứng dụng và công nghiệp Mỹ (SIAM) lập ra từ năm 1969. Theo đánh giá của SIAM, các công trình của Vũ Hà Văn đã phát triển các bất đẳng thức cơ bản cho các đa thức ngẫu nhiên. Các bất đẳng thức này có phạm vi ứng dụng rộng hơn các bất đẳng thức trước đây; chúng cho phép tìm ra lời giải cho một số bài toán lớn từ lâu nay trong hình học xạ ảnh, hình học lồi, lý thuyết đồ thị… Các bất đẳng thức này là một trong những đóng góp quan trọng nhất trong lý thuyết tổ hợp xác suất trong một thập kỷ qua.
MathVn.Com (Theo Gia đình & Xã hội, Dân trí copy lại).

Xem thêm: Vũ Hà Văn - một trong hai giáo sư Toán học trẻ nhất Việt Nam

Thứ Hai, 26 tháng 9, 2011

Toán học - một dạng nghệ thuật

Cuộc trò chuyện giữa Giáo sư Ngô Bảo Châu (cháu) và GS Hà Huy Khoái (chú) - nguyên Viện trưởng Viện Toán học Việt Nam:
GS Hà Huy Khoái cho rằng, để tồn tại, toán học Việt Nam đã qua thời khó khăn nhất; còn để phát triển lên một bước mới, toán học Việt Nam vẫn đang ở thời kỳ khó khăn nhất.
GS Ngô Bảo Châu và Hà Huy Khoái
Ngô Bảo Châu: Tỉ lệ nhà toán học trên đầu người có lẽ không ở đâu bằng gia đình chú Khoái. Chú Hà Huy Hân là giáo viên toán, chú Hà Huy Vui là một nhà toán học Việt Nam hàng đầu trong chuyên ngành kỳ dị. Thế hệ sau còn có Hà Huy Tài, Hà Minh Lam và Hà Huy Thái. Đây là một điển hình về truyền thống gia đình hay là một sự ngẫu nhiên tai quái?

Hà Huy Khoái: Có thể gia đình chú không có “tỷ lệ trên đầu người làm toán cao nhất Việt Nam” (cũng có một số gia đình tương tự, như gia đình các giáo sư Phan Đình Diệu, Nguyễn Minh Chương,…) Tuy nhiên, chú bỏ qua việc cạnh tranh cái “kỷ lục” này, để trả lời câu hỏi tiếp theo. Đây đúng là một phần của truyền thống gia đình, một phần là kết quả của một sự TẤT NHIÊN tai quái (không phải “ngẫu nhiên”, nhưng vẫn là “tai quái”)! Truyền thống, vì cho đến những đời còn ghi lại được trong gia phả (cũng nhiều thế kỷ rồi), thì hình như các cụ kị của chú chỉ biết mỗi nghề…đi học! Có một số cụ đỗ đạt, nhưng có “làm quan” thì cũng chỉ trông coi việc học, như là Huấn đạo, Đốc học. Thành ra đến đời chú cũng chỉ biết tìm nghề học mà thôi. Vấn đề còn lại chỉ là: học cái gì? Ở phổ thông, chú thích học tất cả các môn: Văn, Toán, Sử, Địa,…, có lẽ chỉ trừ môn Thể dục! Thích nhất là Văn, Sử. Thời đó thì Toán có gì để thích đâu: không học thêm, không sách tham khảo, chỉ có sách giáo khoa thôi, mà hình như giáo khoa thời đó cũng dễ hơn bây giờ. Cho nên Toán chỉ được thích vì dễ! Có thể đó cũng là cái may lớn, vì chưa sợ Toán khi học phổ thông, nên sau này vui vẻ đi theo nghiệp Toán! Còn cái sự tất nhiên tai quái nào dẫn chú đến Toán, mà không phải Văn, thì là vì thời chú học phổ thông cấp 2, 3 (1958-1963) là thời mà sự kiện “nhóm Nhân văn - Giai phẩm” còn ồn ào lắm. Ông cụ thân sinh của chú, là một nhà giáo, khuyên các con theo nghề Toán, vì chắc chắn tránh được những nhóm tương tự! Còn thế hệ tiếp theo (Tài, Lam, Thái) thì có thể là do “quán tính”!

Tuy vậy, nếu bây giờ cho chọn lại, chắc chú vẫn chọn nghề Toán!

Chú đã sống với toán học và khoa học Việt Nam qua những thời kỳ rất khác nhau. Thời kỳ trước thống nhất đất nước, thời kỳ từ 75 đến khi bức tường Berlin sụp đổ, thời kỳ từ 1990 đến nay. Liệu chú có thể chia sẻ những suy nghĩ của mình về những sự biến đổi của khoa học Việt Nam trong từng thời kỳ này không?

Câu hỏi lớn quá, và ngẫu nhiên trùng với một ý định từ lâu của chú là viết một cuốn “Hồi ký toán học”. Nói là “hồi ký” có thể không đúng lắm, nhưng là chú muốn viết về những điều “mắt thấy, tai nghe, đầu nghĩ” của mình về cái giai đoạn đầy biến động đó, mà chú may mắn (có thật là may không?) được chứng kiến. Không hiểu rồi cái “hồi ký” mà chú dự định có thể hoàn thành được không, nhưng nếu cần có câu trả lời (dù nhỏ) cho câu hỏi lớn của cháu, thì chú nghĩ có thể là thế này.

Trong biến động nào cũng có hai phần: tinh thần và vật chất, dĩ nhiên là không độc lập với nhau. Trước 1975, hầu như cả dân tộc Việt Nam sống bằng niềm tin vào ngày thống nhất đất nước. Niềm tin đó giúp người ta vượt qua mọi khó khăn về vật chất. Khoa học Việt Nam, Toán học Việt Nam cũng không nằm ngoài không khí chung đó. Khổ, nhưng thấy học toán, làm toán là một niềm vui lớn. Đặc biệt, những năm đầu tiên bước vào ngành toán chính là những năm để lại nhiều ấn tượng nhất trong cuộc đời làm toán của chú, khi được cùng GS Lê Văn Thiêm và mấy người đàn anh áp dụng phương pháp nổ mìn định hướng vào việc nạo vét Kênh nhà Lê phục vụ giao thông thời chiến. Trong chiến tranh, hình như con người lại “lãng mạn” hơn trong thời bình. Lãng mạn, vì ít tính toán hơn. Cũng có thể không có gì để tính toán. Mà lãng mạn thực sự là điều cần cho những ai đi vào toán học, vì nghề làm toán lại là nghề khó “tính” trước nhất! Có ai dám chắc mình sẽ được kết quả gì trong tương lai.

Thời kỳ đầu sau 1975 là thời mà toán học Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển. Rất nhiều người được cử đi học tập ở nước ngoài, kể cả ở các nước phương Tây. Nhưng rồi những thuận lợi đó nhanh chóng qua đi, khi vào khoảng 1985 kinh tế Việt Nam bộc lộ những khủng hoảng trầm trọng của cái thời mà ta gọi là “tập trung, quan liêu, bao cấp”. Không thể sống bằng nghề làm toán với đồng lương ít ỏi, một số phải đi dạy học ở châu Phi, số khác tìm những nghề “tay trái” (nhưng thu nhập hơn nhiều lần “tay phải”), một số khác may mắn hơn thì tìm kiếm được những học bổng để đi nước ngoài. Ngành toán Việt Nam vượt qua được giai đoạn gay go đó trước hết nhờ vẫn còn có những người chịu “sinh nghề, tử nghiệp” với toán, và cả những người “may mắn” nhận được học bổng nước ngoài để sống và tiếp tục làm toán.

Sau 1990, Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới. Toán học Việt Nam cũng đứng trước thách thức hoàn toàn mới. Có lẽ lần đầu tiên, những người làm toán ở Việt Nam phải tự đặt câu hỏi: tại sao lại làm toán, mà không làm nghề khác (có thể kiếm nhiều tiền hơn)? Cái thời mà làm việc gì cũng nghèo như nhau, thì ai thích toán cứ làm toán. Bây giờ, thích toán nhưng cần tiền, có làm toán nữa không? Cái chất “lãng mạn” mà toán học rất cần đã không còn, hay là còn rất ít đất sống. Ông Frédéric Pham đã từng đặt câu hỏi “Y-aura-t-il toujours des mathematiciens au Vietnam l’an 2000” (Gazete de mathematiques, vol. 64, pp. 61-63, 1995). Nhưng toán học Việt Nam, năm 2000, vẫn tồn tại qua thời khủng hoảng. Có thể là do kinh tế Việt Nam cũng đã bước qua khủng hoảng. Cũng có thể do những ai đã chọn toán làm nghề nghiệp của mình thì cũng không đòi hỏi quá nhiều về vật chất, nên họ dễ tự bằng lòng với cuộc sống không cần quá nhiều tiền của mình! Có ai đó nói: “Không nên lãng mạn hóa cái nghèo”, đúng lắm, nhưng cũng đừng để cái nghèo giết chết lãng mạn. Không còn lãng mạn sẽ không còn âm nhạc, thơ ca, không còn toán học.

Chú nghĩ như thế nào về tương lai của toán học Việt Nam?

Nếu định chọn con đường khoa học thì nên tự hỏi: có phải cái mà mình mong muốn nhất là tri thức và tự do không?
GS Hà Huy Khoái
Cháu hỏi chú nghĩ gì về tương lai? Để tồn tại, có lẽ toán học Việt Nam đã qua cái thời khó khăn nhất. Còn để phát triển lên một bước mới: chắc vẫn đang ở thời kỳ khó khăn nhất. Xã hội Việt Nam đang trong cái thời kỳ đầu của “kinh tế thị trường”, cái thời mà chuẩn mực của sự “thành đạt” nhiều khi được đo bằng tiền. Mà tiền chính là cái các nhà toán học có ít nhất! Vậy nên, chỉ những người có quan niệm khác về “thành đạt” mới có thể chọn toán làm nghề nghiệp của mình. Về tương lai của toán học Việt Nam, chú trông chờ hai điều: 1/ nền kinh tế Việt Nam sẽ phát triển để đến khi các nhà doanh nghiệp Việt Nam không còn tự hài lòng với việc giàu lên do làm người bán hàng cho nước ngoài, hoặc người bán nguyên liệu của nước mình cho nước ngoài. Đến khi họ không muốn và không thể tiếp tục làm giàu theo cách đó, họ sẽ cần đến khoa học công nghệ. Khi đó, khoa học cơ bản, toán học sẽ có tiếng nói của mình. 2/ các nhà lãnh đạo thấy rõ đầu tư cho khoa học cơ bản - cũng có thể xem là một phần của việc đầu tư cho giáo dục - là việc làm lâu dài, bảo đảm cho sự phát triển bền vững, là việc của Nhà nước. Nói cách khác, những nhà lãnh đạo cũng cần phải “lãng mạn”, để nhìn được tương lai xa hơn những lợi ích trước mắt có thể “cân đo đong đếm” dễ dàng.

Cháu cũng thấy thật đáng sợ khi người ta lấy đồng tiền làm thước đo cho mọi thứ. Trong cuộc sống, mình vẫn phải tính toán thiệt hơn, nhưng không thể đem cái tính toán thiệt hơn ra làm nền tảng xã hội. Dù sao thì cháu vẫn tin đến lúc nào đó thì chúng ta sẽ tỉnh lại, vì cái căn của con người Việt Nam vẫn là sự tử tế.

Người làm toán bao giờ cũng gặp mâu thuẫn giữa ý muốn làm được cái gì thật hay với việc phải “sản xuất đều đều công trình” (nhất là khi phải xin tài trợ). Theo cháu làm thế nào để sống yên ổn cùng một lúc với hai ý muốn đó?

Theo cháu, mỗi người làm toán nên giữ riêng cho mình một câu hỏi lớn. Có thể không trả lời được ngay, có thể sẽ không trả lời được trong phạm vi hữu hạn của cuộc sống mình có. Nhưng nó sẽ là một cái đích để mọi việc mình làm trở nên logic chứ không ngẫu nhiên và không bị chi phối bởi những gì ầm ĩ nhất thời. Ngược lại, trong mỗi việc cụ thể mình làm thì lại không nên câu nệ xem đây là bài toán to hay nhỏ, mà bản thân mình thấy hay là được. Có điều mình phải luôn tự nhủ phải trung thực với bản thân. Chú có biết cái câu thơ này của ông Bảo Sinh không :

Tự do là sướng nhất đời
Tự lừa còn sướng bằng mười tự do.

Người làm toán nào cũng ít nhiều thích “nổi tiếng”, nhưng khi quá nổi tiếng (chẳng hạn được Fields) thì hình như sự nổi tiếng lại thành gánh nặng. Cháu có lời khuyên thế nào với các bạn trẻ?

Cháu nghĩ ai cũng cần sự công nhận, sự tôn trọng từ những người khác. Trường hợp ông Perelman là rất ngoại lệ. Còn sự nổi tiếng theo kiểu tài tử xi nê thì thực ra rất là bất tiện. Chỉ có điều trong trường hợp của cháu, mình không có cách nào khác ngoài chấp nhận nó, rồi cố gắng hướng nó vào những việc có ý nghĩa.

Khi tiếp xúc với những nhà toán học nước ngoài, chú có cảm giác nói chung họ biết nhiều hơn (về những thứ “không toán”, hay có thể gọi chung là “văn hóa”) so với những người làm toán ở nước ta. Cháu có thấy thế không? Có thể giải thích thế nào về hiện tượng này, và nó ảnh hưởng thế nào đến chính việc làm toán của “họ” và “ta”?

Mỗi người làm toán nên giữ riêng cho mình một câu hỏi lớn. Có thể không trả lời được ngay, có thể sẽ không trả lời được trong phạm vi hữu hạn của cuộc sống mình có. Nhưng nó sẽ là một cái đích để mọi việc mình làm trở nên logic chứ không ngẫu nhiên và không bị chi phối bởi những gì ầm ĩ nhất thời.
GS Ngô Bảo Châu
Cháu lại thấy các nhà khoa học phương Tây hay thắc mắc làm sao mà người phương Đông, không chỉ riêng các nhà khoa học, ai cũng là triết gia. Có thể là cái phông văn hóa phương Đông và phương Tây rất khác nhau, nên ai cũng thấy người kia biết những thứ mà mình mù tịt. Nhưng đúng là cái phông văn hóa có chi phối hoạt động khoa học. Ở phương Đông cháu thấy người ta thích cái kiểu tầm chương trích cú quá.

Có một cái các nhà khoa học phương Tây, tính cả Ấn Độ, hiểu biết hơn hẳn các nhà khoa học phương Đông, đó là âm nhạc, nói rộng ra là khả năng cảm thụ thẩm mỹ. Theo cháu cái khả năng này là một phẩm chất không thể thiếu của người làm toán.

Là một người gắn bó với khoa học Việt Nam gần như từ lúc khai sinh, chú Khoái có thể nói một vài lời cho những bạn trẻ đang chuẩn bị dấn thân vào con đường khoa học không ?

Chú không thích lắm cái chữ “dấn thân”. Nó làm cho người đi vào khoa học có vẻ như ra chiến trường, có vẻ như sẵn sàng hy sinh vì người khác. Thực ra đi vào khoa học cũng không phải “hy sinh” cái gì hết. Ta làm khoa học vì ta thích hiểu biết, thích sáng tạo. Làm khoa học thì được đọc nhiều, tức là được thụ hưởng hơn người khác cái kho tàng tri thức vô giá của nhân loại. Mà đã thụ hưởng thì có nghĩa vụ đền đáp, tức là phải cố gắng góp được cái gì đó, dù nhỏ. Cuộc sống bao giờ cũng sòng phẳng. Nếu mình đã được làm cái mình thích thì cũng không nên đòi hỏi cuộc đời cho lại đầy đủ mọi thứ như người khác. Thích hiểu biết (thực chất cũng là một thứ hưởng thụ) mà lại vẫn mong có rất nhiều tiền; thích tự do làm cái mình muốn mà vẫn mong có nhiều quyền; thích được yên tĩnh để đắm mình vào suy tư riêng mà vẫn mong cái sự nổi tiếng - đó là những mâu thuẫn mà nếu không nhận thức ra thì cứ tưởng mình đang phải hy sinh, đang “dấn thân”! Làm khoa học cũng là một nghề, như mọi nghề khác. Nếu thích giàu thì nên đi buôn, thích quyền thì nên đi làm chính trị, thích hiểu biết, thích tự do thì nên đi vào khoa học. Nghề nào cũng có cái “được” và “mất”. Quan trọng nhất là hiểu cho được mình thực sự cần cái gì. Điều này không dễ, nhất là khi người ta còn trẻ.

Bởi vậy, nếu định chọn con đường khoa học thì nên tự hỏi: có phải cái mà mình mong muốn nhất là tri thức và tự do không?

Trong cuộc đời, ai cũng có thể mắc sai lầm. Theo cháu, bao giờ thì một người cần nhận ra rằng mình đã sai lầm khi chọn nghề Toán, và nên đổi sang nghề khác?

Cháu thấy có nhiều lý do khiến người ta có thể từ bỏ nghề Toán và chọn một nghề khác. Trong trường hợp không nhìn thấy triển vọng nào để nghề Toán tạo cho gia đình mình một cuộc sống tạm gọi là tươm tất, thì Toán không còn là nghề nữa mà là một dạng nghệ thuật để theo đuổi. Để theo đuổi một nghệ thuật thì cần một tình yêu mãnh liệt lắm. Đấy là nghĩa của từ dấn thân mà cháu sử dụng. Nhưng đo độ mãnh liệt của tình yêu thì không dễ.

Để làm toán, người ta chỉ sử dụng một số khá hạn chế khả năng của con người, nhưng lại sử dụng chúng một cách tối đa. Khi nhận ra rằng mình thiếu một số khả năng để làm nàng Toán hoan hỉ, mà lại thừa những khả năng mà nàng ta lờ đi, thì có khi cũng nên tìm một nghề khác với nghề nghiên cứu Toán. Yêu đơn phương lâu dài thì mệt lắm.

Chú Khoái đã có thời gian được làm việc trực tiếp với GS. Lê Văn Thiêm. Chú có chia sẻ những ký ức của chú về GS. Lê Văn Thiêm không? GS Thiêm đã có ảnh hưởng như thế nào đến sự nghiệp toán học của chú Khoái?
Có hai người thầy ảnh hưởng nhiều nhất đến chú, không chỉ trong khoa học mà cả trong cách nhìn nhận cuộc sống là Giáo sư Lê Văn Thiêm và Giáo sư Manin. GS Lê Văn Thiêm, như chú đã từng viết trong một bài giới thiệu về Ông, “thuộc vào số những con người không lặp lại của lịch sử”. Không lặp lại, vì những người hoàn toàn trong sáng như Ông thường chỉ xuất hiện trong buổi đầu của mỗi giai đoạn lịch sử, khi niềm say mê lý tưởng giúp họ quên đi những toan tính cá nhân. Giáo sư Lê Văn Thiêm trong sáng và ngây thơ đến mức tin rằng mọi người cũng trong sáng như Ông (cả khi lịch sử không còn ở giai đoạn đầu!) Khi Ông là Viện trưởng Viện Toán học, đã nhiều lần vì không đủ thời gian chờ, Ông ký tên vào tờ giấy trắng để sau đó nhân viên điền vào những gì họ cần “xin”. Điều đó không để lại hậu quả nào cho Ông khi làm việc ở Viện, nhưng chú nghe nói trước đó, thời còn là Hiệu phó Đại học Tổng hợp, Ông đã bị một số người lợi dụng sự cả tin như vậy và đưa đến khá nhiều điều phiền toái cho Ông. Vậy mà Ông vẫn không hề “rút kinh nghiệm”. Cho đến tận cuối đời, Ông vẫn giữ được nụ cười hồn nhiên như trẻ thơ.
Về khoa học thì chú nghĩ đóng góp tốt nhất của chú là xây dựng “lý thuyết Nevanlinna p-adic”. Chú học được “lý thuyết Nevanlinna” từ GS Lê Văn Thiêm, một trong những người có đóng góp lớn vào lý thuyết đó. Khi đi làm nghiên cứu sinh với Manin, chú học được về “p-adic”. Ghép hai chữ học được ở hai thầy lại thành chữ của mình!

MathVn.Com và Math.com.vn (Theo Tia sáng)

Thứ Sáu, 29 tháng 7, 2011

3 nguyên nhân khiến Olympic Toán Việt Nam đi xuống

Bên hành lang Quốc hội khóa XIII, ông Đào Trọng Thi, giáo sư Toán học, nguyên Giám đốc ĐH Quốc gia Hà Nội, hiện đang là Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa giáo dục Quốc hội đã có cuộc trao đổi với VnExpress về việc olympic Toán Việt Nam đi xuống.

- Từng là dân chuyên Toán và là giáo viên dạy Toán, cảm giác của ông thế nào khi biết kết quả của đội tuyển Olympic Toán Việt Nam tại Hà Lan vừa qua?

- Tôi rất buồn vì thành tích của đoàn Việt Nam tham gia Olympic quốc tế, đặc biệt là môn Toán. Hàng chục năm nay, chúng ta thường đứng trong top 10, có năm đứng ở top 3 và gần như không năm nào không có huy chương vàng. Trong khu vực, chỉ Việt Nam có tiếng tăm về thi Toán quốc tế, các nước hầu như không có, kể cả Singapore.

Nhưng mấy năm nay thành tích của chúng ta sụt giảm, trong khi các nước trong khu vực như Singapore, Thái Lan đang vươn lên và đạt thành tích rất tốt. Với tình trạng sụt giảm như thế này, ở tất cả các môn trong đó có Toán, những người làm quản lý nhà nước cần phải suy nghĩ. Rõ ràng đây là hiện tượng không bình thường.

- Theo ông, vì sao thành tích của Việt Nam lại đi xuống?

- Có nhiều nguyên nhân. Thứ nhất là sự hấp dẫn học sinh giỏi của chúng ta tham gia vào các chương trình đào tạo bồi dưỡng tài năng có phần giảm sút. Cái đó là do chính sách, ví dụ trước chúng ta tuyển thẳng vào đại học những học sinh giỏi quốc gia, giờ không tuyển nữa nên học sinh, phụ huynh không quan tâm tới các kỳ thi học sinh giỏi. Người ta chỉ quan tâm học để thi tốt nghiệp, thi đại học cho đậu.

Thứ hai là các cơ sở đào tạo bồi dưỡng học sinh năng khiếu để tham gia thi học sinh giỏi, tạo nguồn cho các đội tuyển có vấn đề nên không cung cấp được nguồn cho đội tuyển.

Thứ ba là việc lựa chọn học sinh tham gia đội tuyển của chúng ta cũng có vấn đề. Tôi thấy có rất nhiều đơn vị đào tạo nổi tiếng như chuyên của ĐH Quốc gia Hà Nội, ĐH Sư phạm thì lần này vắng bóng. Có thể những cơ sở đào tạo ấy không có em giỏi tham gia, nhưng tôi nghĩ khả năng nhiều hơn là do chọn không đúng.

- Ngoài 3 lý do trên, ông có cho rằng trình độ của học sinh Việt Nam, nhất là Toán, đang đi xuống?

- Tôi không cho rằng trình độ của học sinh toàn quốc kém đi, vì nguồn học sinh tài năng của ta không phải là không có, cái chính là chúng ta chưa tổ chức phát hiện, bồi dưỡng đào tạo, hay nói cách khác là chọn mặt gửi vàng không đúng.

Chúng ta điều chỉnh lại đúng đắn thì tôi tin rằng sẽ tiếp tục phát huy thế mạnh Toán học của chúng ta. Tôi không nghĩ Việt Nam đến Ngô Bảo Châu là dừng lại, mà còn có những người khác và không chỉ có Toán, cả những môn học khác.

- Từng có thầy giáo chuyên bồi dưỡng học sinh tham dự các kỳ thi quốc tế nói rằng đi luyện học sinh đội tuyển không bằng đi làm dự án, vì làm dự án có thể mỗi năm kiếm vài trăm triệu đồng. Ông nghĩ sao trước ý kiến này?

- Đúng, chúng ta chưa có chế độ thỏa đáng đối với những thầy bồi dưỡng đội tuyển để họ an tâm, dồn hết tâm huyết cho các em. Sự sụt giảm thành tích lần này đánh động cho những người làm công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân tài. Đã đến lúc chúng ta phải xem xét lại toàn bộ công tác này, cần có sự đầu tư cả về chính sách, nhân lực, cơ sở vật chất, kinh phí để giữ vững và phát huy truyền thống mình đã có.

- Ủy ban Văn hóa giáo dục thanh thiếu niên và nhi đồng có kiến nghị gì về việc này?

- Chính sách phát triển, đào tạo bồi dưỡng nhân tài là một chính sách lớn của Đảng, trong thời điểm hiện nay khi kinh tế xã hội phát triển thì chính sách đó lại càng quan trọng, càng phải đầu tư, chú ý nhiều hơn. Bộ Giáo dục và Đào tạo với tư cách cơ quan quản lý nhà nước cần nghiêm túc xem xét chuyện này, có những cái phải điều chỉnh, bổ sung.

Chức năng của Ủy ban không làm những vấn đề cụ thể, chúng tôi chỉ có ý kiến trao đổi như vậy và cũng mong các đồng chí quan tâm xem xét trong thẩm quyền. Tôi tin rằng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nhìn nhận được vấn đề, chắc chắn có điều chỉnh và rút kinh nghiệm.

6 học sinh Việt Nam tham dự Olympic Toán quốc tế lần thứ 52 được tổ chức tại Hà Lan đều giành huy chương đồng. Đó là các em Đỗ Kim Tuấn (THPT Chuyên Hà Nội - Amsterdam), Lê Hữu Phước (THPT chuyên Lê Quý Đôn, Đà Nẵng), Nguyễn Văn Quý (THPT chuyên Bắc Ninh), Nguyễn Thành Khang (THPT Chuyên Hùng V­ương, Phú Thọ), Võ Văn Huy (THPT Lê Hồng Phong, Phú Yên) và Nguyễn Văn Thế (THPT chuyên Lê Hồng Phong, Nam Định). Với thành tích này, đoàn học sinh Việt Nam xếp thứ 31/90.

Theo VNExpress

Thứ Năm, 28 tháng 7, 2011

Toán chuyên Việt Nam tụt hạng, do đâu?

Trong kỳ thi Olympic Toán học quốc tế lần thứ 52 (IMO 2011), 6 học sinh VN tham gia chỉ đoạt huy chương đồng và đoàn VN xếp thứ 31/90.
Toán chuyên Việt Nam tụt hạng, do đâu?

Nhận định về kết quả này, TS Trần Nam Dũng (Tp HCM) nếu ý kiến trên một diễn đàn Toán:

"Kết quả IMO năm nay của đoàn Việt Nam nằm ngoài tất cả các dự đoán bi quan nhất. Phải thẳng thắn thừa nhận đây là một bước lùi trong phong trào Olympic Toán của chúng ta.
Tuy nhiên, điều này không phải là bất ngờ. Điều này đã được dự đoán trước sau hàng loạt những chính sách diễn ra vào những năm 2006-2007. Dù sau đó chúng ta có thành tích "vang dội" trên sân nhà năm 2007 và may mắn thoát hiểm 3 năm sau đó nhưng chưa bao giờ chúng ta cảm thấy tự tin như những năm trước đây.
Sẽ cần có một cuộc Hội thảo nghiêm túc để mổ xẻ vấn đề và tìm ra giải pháp. Và tôi nghĩ một trong những giải pháp quan trọng là một chương trình đào tạo, bồi dưỡng dài hơi với từ những lớp dưới và từ cấp cơ sở. Ở đây vai trò của các thầy cô ở các lớp 8, 9, 10 rất quan trọng, và ở các huyện, các tỉnh rất quan trọng.
Và chúng ta cần khiêm tốn học hỏi. Học Nga, Mỹ, Rumani đã đành, phải học cả Singapore, Nhật Bản, Thái Lan nữa.
Kỳ thi IMO 2011 đã khép lại một năm Olympic với nhiều kỷ niệm buồn vui. Chúng ta hãy cùng gác qua những nỗi buồn để chờ đón năm 2012 với nhiều đổi mới và thành công."

Giáo sư Ngô Bảo Châu trả lời trên báo Tuổi trẻ về kết quả tệ nhất trong 37 năm tham dự (1974-2011):
"Thực tế 5-6 năm nay rất ít em thi toán quốc tế đeo đuổi theo ngành toán. Điểm thi ĐH vào khoa toán ở các trường tốt nhất cũng rất thấp, chứng tỏ rất ít học sinh theo ngành toán nói riêng và khoa học cơ bản nói chung. Đó là điều rất đáng lo ngại.
Ở các nước phát triển, các nhà khoa học được tạo điều kiện tối đa để tập trung vào công việc nghiên cứu chuyên môn. Tôi nghĩ không thể ngày một ngày hai VN có được điều kiện như vậy, nhưng chúng ta phải làm từng bước, từng bước để đạt được điều đó.
Song tôi cho rằng VN có thể làm được điều này: tổ chức những nhóm làm việc về những đề án nghiên cứu lớn, trong đó có sự tham gia của các nhà khoa học VN cũng như các nhà khoa học trẻ người VN ở nước ngoài để họ thấy ở VN họ cũng có cơ hội và có thể làm được khoa học, sống được bằng khoa học”.

Trong thành phần đội tuyển Toán năm nay vắng bóng các học sinh của các trường chủ lực trong đội tuyển Olympic Toán quốc tế như: THPT chuyên ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐHQG HN), THPT chuyên ĐH Sư phạm Hà Nội. Ông Hồ Sĩ Đàm (Trường ĐH Công nghệ, ĐH Quốc gia HN) giải thích trên báo Tiền Phong: "Việc Bộ GD&ĐT bỏ chế độ tuyển thẳng học sinh giỏi quốc gia vào ĐH làm giảm sút lớn tinh thần học chuyên, tham gia đội tuyển thi học sinh giỏi quốc gia của học sinh, phụ huynh, các thầy, nhà trường”.
Nhiều năm theo chân đội tuyển Olympic Tin học quốc tế và gặt hái nhiều vinh quang, ông Hồ Sĩ Đàm cũng xin rút khỏi đoàn do bất đồng về chính sách đào tạo học sinh chuyên.
Ông Đàm nói: “6 huy chương đồng cho Toán và không có huy chương vàng nào cho môn học vua này là một cú ngã ghê gớm của VN. 2.300 tỷ xây dựng phát triển trường chuyên là khoản đầu tư lớn. Nhưng có câu: "Không thầy đố mày làm nên".
Theo ông Đàm, cơ sở vật chất có lớn đến đâu nhưng lương “ba cọc ba đồng” thì giáo viên dạy chuyên khó mà tâm huyết. Các thầy sẽ tập trung vào làm đề tài khoa học và dễ “thu hoạch” 500-700 triệu đồng/năm, rồi viết báo đăng tạp chí nước ngoài… ngọt hơn đào tạo người tài rất nhiều.
MathVn.Com tổng hợp

Thứ Năm, 30 tháng 6, 2011

Giáo sư Ngô Bảo Châu đến HUẾ

Giao su Ngo Bao Chau den Hue
Giáo sư Ngô Bảo Châu sẽ đến HUẾ vào ngày 1/7/2011
Hội Toán học Huế xin thông báo
GS. Ngô Bảo Châu, nhà Toán học Việt Nam đầu tiên nhận huy chương Fields, một trong các huy chương danh giá nhất của Toán học, sẽ đến thăm, làm việc với Đại Học Huế, trường Đại Học Sư Phạm Huế và có buổi nói chuyện, giao lưu với sinh viên khoa toán, cán bộ giảng dạy toán của Đại học Huế, học sinh chuyên toán cũng như giáo viên Toán trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.

Buổi nói chuyện và giao lưu của giáo sư Ngô Bảo Châu sẽ được tổ chức tại Phòng hội tầng 3, khu nhà hiệu bộ, trường Đại Học Sư Phạm, Đại Học Huế, 32 Lê Lợi Huế, vào lúc 15g00 ngày 01/07/2011.
Chuyến viếng thăm và làm việc của GS. Ngô Bảo Châu là cơ hội quý giá của những người nghiên cứu và giảng dạy Toán trên địa bàn Tỉnh. Buổi nói chuyện và giao lưu là dịp cho cán bộ trẻ, sinh viên, học sinh PTTH có cơ hôi giao lưu và và học hỏi kinh nghiệm học tập và nghiên cứu Toán từ nhà Toán học Ngô Bảo Châu.

Kính mời tất cả quý đồng nghiệp, sinh viên toán và học sinh chuyên toán tham dự.

Thông báo này thay cho giấy mời.
Huế ngày 27 tháng 06 năm 2011
Tổng Thư ký HTH Huế
PGS.TS. Đoàn Thế Hiếu

Liên hệ: Đoàn Thế Hiếu, Khoa Toán, ĐHSP Huế, email: dthehieu@yahoo.com.

Cập nhật ngày 2/7/2011:
“Muốn giỏi chúng ta phải có niềm đam mê. Trong thời gian từ năm 2003 đến năm 2004, tôi đã từng gặp những khó khăn thậm chí có thể bỏ dở công việc nghiên cứu toán học… Niềm đam mê cùng với sự kiên trì, tự tin trước mọi vấn đề sẽ giúp bạn thành công”.

Đó là lời khuyên của GS Ngô Bảo Châu - chủ nhân giải thưởng toán học Fields danh giá dành cho sinh viên ĐH Sư phạm Huế trong buổi giao lưu chiều hôm qua 1/7.



Buổi giao lưu nằm trong khuôn khổ chuyến thăm và làm việc của GS Toán học Ngô Bảo Châu tại ĐH Huế ngày 1/7. Tại buổi làm việc, sau khi nghe giám đốc ĐH Huế - PGS.TS. Nguyễn Văn Toàn giới thiệu khái quát về ĐH Huế, GS Ngô Bảo Châu khẳng định cần có các bước để xây dựng ĐH Huế lớn mạnh xứng đáng là trung tâm đào tạo nhân lực cho miền Trung và Tây Nguyên. Trong đó, nên tập trung đầu tư cho các dự án, đề án nghiên cứu khoa học; quan tâm chú ý đến giáo dục người trẻ và tiếp nhận người trẻ.
PGS.TS. Nguyễn Văn Toàn bày tỏ mong muốn GS Ngô Bảo Châu sẽ tạo điều kiện để những người nghiên cứu, giảng dạy môn Toán trên địa bàn tỉnh và sinh viên ĐH Huế có nhiều cơ hội tiếp cận với toán học hiện đại. Và hỗ trợ để các giảng viên tại Huế có điều kiện tham dự những hội nghị toán học trong nước và quốc tế, được đi đào tạo ở các trung tâm toán học lớn trên thế giới nhằm giúp ngành Toán học ở Huế phát triển.

Chiều cùng ngày, GS Ngô Bảo Châu đã có buổi nói chuyện về toán học và giao lưu với đông đảo HS, SV tại Trường ĐH Sư phạm Huế. Tại buổi nói chuyện, GS Ngô Bảo Châu đã trình bày bài giảng về chủ đề “Dựng hình bằng thước kẻ và compa”.

Trong phần giao lưu, các HS, SV và nhiều giảng viên trẻ Trường ĐH Sư phạm Huế đã đặt nhiều câu hỏi với GS Ngô Bảo Châu về những khó khăn trong việc chứng minh Bổ đề cơ bản; những yếu tố dẫn đến niềm đam mê của GS đối với toán học; kinh nghiệm giải những bài toán khó, cách học toán hiệu quả...

GS Ngô Bảo Châu đã trả lời những câu hỏi và đã có nhiều chia sẻ về việc học tập, nghiên cứu toán học và những ước mơ, quan điểm sống của mình. GS Ngô Bảo Châu cũng cho biết về những hoạt động sắp tới của Viện nghiên cứu cao cấp về toán mà GS vừa được bổ nhiệm làm giám đốc khoa học…

Trong buổi chiều giao lưu với SV, có nhiều ý kiến hỏi của các bạn HS, SV về việc làm thế nào để học tốt môn Toán cũng như bí quyết của GS trong việc giải mã những vấn đề lớn của toán học. GS Ngô Bảo Châu cho rằng: “Muốn giỏi chúng ta phải có niềm đam mê. Trong thời gian từ năm 2003 đến năm 2004, tôi đã từng gặp những khó khăn thậm chí là có thể bỏ dở công việc nghiên cứu toán học, Tuy nhiên khi được các thầy giáo của mình ở Pháp cho những lời khuyên bổ ích, tôi đã quyết định gắn bó cuộc đời mình với toán học. Niềm đam mê cùng với sự kiên trì, tự tin trước mọi vấn đề sẽ giúp bạn thành công”.

Theo GS Châu, hiện nay nhiều gia đình hay áp đặt các em học sinh từ lúc học cấp 3 thường định hướng thi vào những ngành mà khi ra trường công việc được dễ dàng thuận lợi. Đó là một trong những nguyên nhân đẫn đến tỷ lệ sinh viên đăng ký thi tuyển vào ngành Toán và Toán - Tin trong những năm gần đây tại các trường đại học ở nước ta có xu hướng giảm nhiều. Cũng có rất ít cán bộ trẻ được đào tạo tu nghiệp ngành Toán ở nước ngoài khi ra trường lại không muốn về nước làm việc vì điều kiện học nước ngoài thường khác hơn so với điều kiện nghiên cứu trong nước.

Về sự phát triển của ngành Toán, GS cho biết “Trong thời gian tới, Viện nghiên cứu cao cấp về Toán Việt Nam sẽ tập hợp các giáo sư Toán tại trường đại học lớn ở TPHCM, Đà Nẵng, Huế, Cần Thơ, Hà Nội cùng nhau ngồi lại bàn luận, nhìn nhận các vấn đề khó khăn đang đặt ra cho việc nghiên cứu toán học tại Việt Nam để tháo gỡ nhằm tiến tới phát triển ngành Toán lên một tầm vóc mới”.

Ảnh: Lao Động, Bài: Dân Trí